Nghiên cứu Cơ bản
Thứ 4, 18/9/2019
Khảo sát đặc điểm biến thiên huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp ẩn giấu qua holter huyết áp 24 giờ
Tác giả: Võ Thị Hà Hoa, Đặng Văn Trí
Print E-mail
 

TÓM TẮT

Mục tiêu: Tìm hiểu tỷ lệ tăng huyết áp ẩn giấu (THAÂG)ở đối tượng có các yếu tố nguy cơ (YTNC) tim mạch và đối tượng THA đang điều trị có huyết áp lâm sàng bình thường. Khảo sát các đặc điểm và biến thiên huyết áp trong 24 giờ ở bệnh nhân THA ẩn giấu.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang, tiến hành từ tháng 5/2012 - 5/2013; gồm 140 bệnh nhân (nhóm YTNC có 70 người và nhóm  THA có        70 người), độ tuổi trung bình 56,1 ± 7,3, thời gian đo holter huyết áp trung bình 23,6 ± 0,7 giờ.

Kết quả: Tỷ lệ THAÂG là 21,4% (ở nhóm THA là 22,9% và ở nhóm YTNC là 20,0%). Các trị  số trung bình của huyết áp (ban ngày, ban đêm và 24 giờ) ở nhóm THAÂG cao hơn nhóm không có THAÂG (p < 0,05). Trong 24 giờ, cả hai nhóm đều có 2 khỏang tăng và giảm huyết áp, tuy nhiên ở nhóm THAÂG mức huyết áp cao hơn và biên độ dao động huyết áp lớn hơn nhóm không THAÂG. Huyết áp lúc thức giấc và tỷ  lệ có THA lúc thức giấc ở nhóm có THAÂG cao hơn nhóm không THAÂG (p < 0,05). Tỷ lệ “Không có trũng huyết áp ban đêm” ở nhóm THAÂG và nhóm không có THAÂG khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Tỷ lệ % quá tải huyết áp (tâm thu và tâm trương, ban ngày và ban đêm) ở nhóm THAÂG cao hơn nhóm không THAÂG (p < 0,05).

Kết luận: THA ẩn giấu chiếm tỷ lệ cao ở người có các YTNC tim mạch và người THA đang điều trị. Các đặc điểm và biến thiên huyết áp của THA ẩn giấu có tính chất nguy cơ cao. Từ khóa: Tăng huyết áp ẩn giấu, holter huyết áp, biến thiên huyết áp.

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF BLOOD PRESSURE VARIABILITY IN PATIENTS WITH THE MASKED HYPERTENSION DETECTED BY 24-H AMBULATORY BLOOD PRESSURE MONITORING

Vo Thi Ha Hoa1, Đang Van Tri1

Objects:    Studying percentage of masked hypertension (MH) in subjects with cardiovascular risk factors and treating hypertensive patients with normal clinical blood pressure (BP). Investigating the characteristics and 24-h BP variabibity in patients with MH.

Subjects and Methods: This is a cross-sectional study conducted from May 2012 to May 2013; including 140 patients (70 patients with cardiovascular risk factors and 70 hypertensive patients with normal BP), mean age 56.1 ± 7.3; total recoding time of ABPM 23.6 ± 0.7 hours.

Results: The percentage of MH is 21.4% (22.9% in hypertension group and 20% in the cardiovascular risk factors group). The mean of systolic, diastolic BP (daytime, nighttime and 24-h) is higher in the MH than in the non-MH (p < 0.05). During 24 hour, both of the two groups have twice time increasing and decreasing of blood pressure, however the level and altitude of blood pressure is higher in the MH than in the non-MH (p < 0.05). The percentage of hypertension and the values of BP at wake-up time is higher in the MH than in the non-MH (p < 0.05). The percentage of non-dipper is non-significant between of the two groups (p > 0.05). The percentage of overloading BP is higher in MH than in the other group (p < 0.05).

Conclusions: There is high percentage of MH in patients with cardiovascular risk factors and in treating hypertensive patients with normal clinical BP. The characteristics and BP variability is high cardiovascular risks in MH patients.

Keywords: Masked hypertension, ABPM, blood pressure variability.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (2008), có khỏang 1,5 tỷ người trên thế giới bị tăng huyết áp (THA) và ước tính có khỏang 17,5 triệu người trên thế giới bị chết do THA và các biến chứng tim mạch. Tại Mỹ (2006) có khỏang 74,5 triệu người bị THA, tức là cứ khỏang 3 người lớn lại có 1 người bị THA. Ở Việt Nam cuối thập niên 1980 tỉ lệ THA ở người lớn khỏang 11%, và theo một điều tra gần đây nhất của Viện Tim mạch Quốc gia tại 8 tỉnh và thành phố của nước ta thì tỷ lệ này là 27,4%.

Ngày nay, với sự phát triển về kỹ thuật đo Holter huyết áp 24 giờ, người ta chia thành 4 phân nhóm huyết áp, gồm: Huyết áp bình thường (normotensive), THA áo choàng trắng (white- coat hypertension), THA   ẩn giấu (masked hypertension) và THA thật sự (true hypertension). THA ẩn giấu là tình trạng huyết áp bình thường dưới 140/90 mmHg khi đo tại cơ sở y tế, còn khi đo ngoài cơ sở y tế (tại nhà hoặc đo huyết áp lưu động trong 24 giờ) có chỉ số trung bình trên 135/85mmHg. Theo Hội Tim mạch học Việt Nam, tỷ  lệ  bệnh nhân bị THA                      ẩn giấu (THAÂG)chiếm khỏang 5% dân số. Điều quan trọng là hầu như cả thầy thuốc và bệnh nhân đều chưa chú ý đến THAÂG. Trong khi ở đối tượng THAÂG thì các đặc điểm về biến thiên huyết áp, hiện tượng “không có trũng huyết áp” (non-dipper) ban đêm hay tăng vọt huyết áp buổi sáng là những yếu tố nguy cơ (YTNC) dễ gây các biến chứng tim mạch.

Holter huyết áp 24 giờ có các ưu điểm là có thể đo, ghi lại và phân tích toàn bộ các biến thiên huyết áp trong 24 giờ. Trên cơ sở đó có thể phát hiện các cơn THA, các hiện tượng liên quan đến biến thiên nhịp sinh học với huyết áp, nhất là ở những đối tượng THAÂG – là đối tượng dễ bị bỏ sót trong chẩn đoán cũng như theo dõi trong điều trị. Đối với những người có các yếu tố nguy cơ tim mạch và cả những người đã được chẩn đoán và đang điều trị THA thì việc chẩn đoán và theo dõi THAÂG vẫn còn bỏ ngõ. Trước tính thời sự của các vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu áp dụng Holter huyết áp 24 giờ khảo sát sự biến thiên của huyết áp ở đối tượng có các YTNC tim mạch và những đối tượng THA đang được điều trị ổn định để có kế hoạch điều trị và dự phòng. Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu tỷ lệ THA ẩn giấu ở các đối tượng có một số YTNC tim mạch và các đối tượng THA đang điều trị có huyết áp lâm sàng bình thường.

- Khảo sát các đặc điểm biến thiên huyết áp trong 24 giờ ở bệnh nhân THA ẩn giấu.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Khám tầm soát trên 600 đối tượng, độ tuổi từ 36 đến 70 tuổi, để chọn khỏang 140 người đáp ứng được yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, tiến hành đo huyết áp 24 giờ bằng Holter huyết áp tại khoa Tim mạch, Bệnh viện C Đà Nẵng. 

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn nhóm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được chia làm 2 nhóm:

- Nhóm có YTNC tim mạch: Có 70 bệnh nhân, không có THA khi đo huyết áp quy ước    (< 140/90 mmHg), có các YTNC của bệnh tim mạch như: Tuổi, giới, hút thuốc lá, ít vận động, đái tháo đường, rối loạn lipid máu…

- Nhóm THA: Có 70 bệnh nhân đã được chẩn đoán THA, hiện đang được điều trị, có huyết áp lâm sàng ổn định (huyết áp được kiểm soát < 140/90 mmHg).

2.1.2. Tiêu chuẩn loại khỏi nghiên cứu

Bệnh nhân THA nhưng chưa kiểm soát được (huyết áp lâm sàng ³ 140/90 mmHg). Bệnh nhân được chẩn đoán THA triệu chứng. Đang mắc các bệnh lý cấp tính có ảnh hưởng đến huyết áp. Bệnh nhân có số lần đo Holter huyết áp 24 giờ không đạt 85% tổng thời gian đo.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Đây là nghiên cứu tiến cứu, mô tả  cắt ngang, có so sánh đối chứng giữa 2 nhóm có và không có THA trên lâm sàng, từ tháng 5/2012 đến tháng 5/2013.

- Đo huyết áp lâm sàng: Theo phương pháp thường quy (huyết áp kế thủy ngân), mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều, trong 3 ngày liên tục. Huyết áp lâm sàng được đánh giá bằng trị số trung bình của huyết áp buổi sáng và buổi chiều được đo trong 3 ngày liên tiếp (6 lần đo). Tiêu chuẩn huyết áp lâm sàng bình thường khi < 140/90mmHg.

- Đo Holter huyết áp: Những bệnh nhân có huyết áp lâm sàng bình thường sẽ được đo holter huyết áp 24 giờ. Huyết áp 24 giờ được đo bằng Holter huyết áp loại TONOPORT V- Germany, theo quy trình chuẩn và tự động cập nhật các thông số. Huyết áp ban ngày được đo từ 06giờ đến 21giờ 59 phút (mỗi 30 phút máy tự động đo một lần) và huyết áp ban đêm từ 22giờ đến 05giờ59 phút (mỗi 60 phút đo một lần).

- Tiêu chuẩn chẩn đoán THA ẩn giấu: Theo tiêu chuẩn của ESH/ESC năm 2007:

- Đỉnh huyết áp buổi sáng (huyết áp lúc thức giấc): Được tính là huyết áp trung bình (tâm thu và tâm trương) từ 05giờ00 đến 06giờ59 phút buổi sáng. Huyết áp được xem là có đỉnh huyết áp buổi sáng (surge) khi huyết áp trung bình buổi sáng sớm (từ 05giờ00 đến 06giờ59) cao hơn 20mmHg so với huyết áp trung bình ban ngày trong khỏang thời gian còn lại (từ 07giờ00 đến 21giờ59 phút).

- Phân chia trạng thái “Có trũng huyết áp ban đêm” (dipper) và “Không có trũng huyết áp ban đêm” (nondipper): Có trũng khi trạng thái giảm huyết áp trung bình ban đêm lớn hơn hoặc bằng 10% so với huyết áp trung bình ban ngày; tỷ  lệ giảm huyết áp trung bình ban đêm của huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương được tính theo công thức: % = [ (trung bình huyết áp ban ngày) – (trung bình huyết áp ban đêm) ] x 100%.

- “Giới hạn huyết áp” và “Quá tải huyết áp”: Giới hạn huyết áp ban ngày là 135/85 mmHg và giới hạn huyết áp ban đêm là 125/80mmHg. Quá tải huyết áp (gánh nặng huyết áp) là % số lần huyết áp (tâm thu, tâm trương) vượt quá “Giới hạn huyết áp”.

- Các tiêu chuẩn chẩn đoán các YTNC: Chẩn đoán đái tháo đường theo IDF năm 2009; chẩn đoán béo phì theo BMI của WHO áp dụng cho người lớn vùng Châu Á – Thái Bình Dương; chẩn đoán rối loạn lipid máu theo NCEP – ATPIII (2001).

2.3. Xử lý số liệu

Các số liệu được thu thập và xử lý trên máy vi tính bằng phần mềm SPSS for Window 15.0, theo các phép thống kê y học thông thường. Sử dụng các phép thống kê mô tả về tỷ lệ %, trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất và các phép kiểm định thống kê.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu 140 bệnh nhân (gồm 70 bệnh nhân có các YTNC tim mạch và 70 bệnh nhân THA đang điều trị có huyết áp lâm sàng ổn định), có độ tuổi trung bình 56,1 ± 7,3 (nhỏ nhất        36 tuổi, lớn nhất 70 tuổi); thời gian đo holter huyết áp trung bình 23,6 ± 0,7 giờ (ngắn nhất 21 giờ, dài nhất 24,5 giờ), chúng tôi có kết quả như sau:

3.1. Tỷ lệ tăng huyết áp ẩn giấu

Bảng 1. Tỷ lệ tăng huyết áp ẩn giấu ở hai nhóm nghiên cứu


Tỷ lệ THAÂG ở cả hai nhóm là 21,4%; trong đó tỷ lệ THAÂG ở nhóm THA là 22,9% và nhóm có YTNC là 20,0% (p > 0,05). 

3.2. Trung bình của huyết áp ban ngày, ban đêm và 24 giờ

Bảng 2. Trung bình của huyết áp ban ngày, ban đêm và 24 giờ


Khác biệt có   nghĩa thống kê về HATT và HATTr (ban ngày, ban đêm và 24 giờ) giữa nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG (p < 0,05).

3.3.  Biến thiên huyết áp trong 24 giờ

Biểu đồ 1. Biến thiên huyết áp trong 24 giờ ở nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG


Cả hai nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG đều có 2 khoảng tăng và giảm huyết áp, tuy nhiên ở nhóm THAÂG mức huyết áp cao hơn và biên độ dao động huyết áp lớn hơn nhóm không THAÂG. Trong 24 giờ, có 2 khoảng huyết áp tăng (lúc 07:00 đến 09:00 và lúc 16:00 đến 03:00).

Biểu đồ 2. Biến thiên huyết áp trung bình và nhịp tim


Huyết áp trung bình (Mean Arterial Pressure – MAP) ở nhóm THAÂG (Trung bình 106,2 mmHg, thấp nhất 96,9 mmHg, cao nhất 117,4 mmHg) luôn              ở  mức cao hơn nhóm không THAÂG (Trung bình 89,3 mmHg, thấp nhất 84,4 mmHg, cao nhất 95,6 mmHg), p < 0,01. Nhịp tim trung bình    ở nhóm THAÂG (Trung bình 75 lần/phút, thấp nhất 65 lần/phút, cao nhất              84 lần/phút) cao hơn nhẹ so với nhóm không THAÂG (Trung bình 72 lần/phút, thấp nhất     phút, cao nhất 81 lần/phút), p < 0,05.

3.4. Huyết áp lúc thức giấc (Đỉnh huyết áp buổi sáng).

Bảng 3. Huyết áp lúc thức giấc đối tượng THA ẩn giấu


Huyết áp lúc thức giấc (HATT và HATTr) ở nhóm THA ÂG cao hơn nhóm không THA ÂG (136,7 ± 16,1/91,9 ± 15,5 mmHg so với 121,2 ± 11,7/76,6 ± 9,1 mmHg, p < 0,05).

Bảng 4. Tỷ lệ % có THA lúc thức giấc


Tỷ lệ có THA lúc thức giấc ở nhóm THAÂG cao hơn nhóm không THAÂG.

3..5. Tỷ lệ có trũng (dipper) và không có trũng (non-dipper) huyết áp.

Bảng 5. Tỷ lệ có trũng và không có trũng huyết áp ban đêm


Tỷ lệ “không có trũng huyết áp” ban đêm giữa nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG khác biệt không có   nghĩa thống kê (p > 0,05).

3.6. Quá tải huyết áp ngày và đêm (%).

Bảng 6. Tỷ lệ % quá tải huyết áp ban ngày và ban đêm


Tỷ lệ % quá tải huyết áp (HATT và HATTr) ở nhóm THAÂG cao hơn nhiều so với nhóm không THAÂG (p < 0,05).

4. BÀN LUẬN

4.1. Tỷ lệ tăng huyết áp ẩn giấu

Tỷ  lệ THAÂG ở  cả hai nhóm là 21,4% (ở nhóm THA là 22,9% và nhóm có YTNC là 20,0%). Kết quả này của chúng tôi cao hơn của tác giả Thân Hồng Anh (2009, tại BV 175 với tỷ lệ là 18%, ở nhóm THA là 23% và nhóm YTNC là 12%); và tương đương với các tác giả nước ngoài như Pascal Desart (28,9%) [8]; các tác giả khác có tỷ lệ THAÂG từ 10% đến 30% (Gallo,Yin,...) [1], [10]. Các kết quả này do việc chọn đối tượng nghiên cứu và giới hạn mức huyết áp cài đặt cho holter khác nhau, nhưng nhìn chung THAÂG vẫn chiếm một tỷ lệ đáng để quan tâm. Điều quan trọng là đối với 4 thể loại THA thì việc chẩn đoán là thống nhất đối với các thể THA thật sự và huyết áp bình thường nhưng còn khó khăn đối với các thể THAÂG và THA áo choàng trắng (vì huyết áp lâm sàng và holter huyết áp là không tương đồng); trong khi các tổn thương cơ quan  đích của THAÂG là tương đương với THA thật sự. Nghiên cứu PAMELA (gồm 3.200 người trong cộng đồng, tại Italia) thấy có 67% huyết áp bình thường, 12% THA thật sự, 12% THA áo choàng trắng và 9% THAÂG. Đồng thời nghiên cứu này cũng cho thấy tăng chỉ số khối cơ thất trái là tương đương giữa THA ẩn giấu (86 g/m2) và THA thật sự (90 g/m2), còn ở người huyết áp bình thường chỉ là 73g/m2; tỷ lệ có mảng xơ vữa động mạch cảnh là 28% ở cả THAÂG và THA thật sự, trong khi người huyết áp bình thường tỷ  lệ này chỉ chiếm 15%. Nghiên cứu OHASAMA (2005, tại Nhật), sau 10 năm theo dõi ở 1.332 người cũng thấy nguy cơ đột quỵ và bệnh lý tim mạch ở người THAÂG là 2,13 (95%CI: 1,38 – 3,29) và THA thật sự là 2,26 (95%CI: 1,49 – 3,41) [9]. Vì vậy sử dụng holter huyết áp 24 giờ để chẩn đoán sớm THAÂG và theo dõi, điều trị để hạn chế tổn thương cơ quan đích luôn là biện pháp mang lại nhiều lợi ích.

4.2. Đặc điểm biến thiên huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp ẩn giấu

- Các trị số trung bình của huyết áp ban ngày (142,4/94,7 mmHg), ban đêm (128,5/85,6) và 24 giờ (139,8/92,1) ở nhóm THA ẩn giấu cao hơn nhóm không có THA ẩn giấu (p < 0,05). Kết quả này tương đương với nghiên cứu của Takayoshi Ohkubo và cộng sự (ban ngày 143/84, ban đêm 122/70 và 24 giờ 136/79) [9]. Đây là các giá trị biểu hiện cho tình trạng tổn thương cơ quan đích và các biến chứng ở những đối tượng có THA ẩn giấu. Những nghiên cứu gần đây đều cho thấy ở những đối tượng có mức huyết áp trung bình 24 giờ cao thường có tổn tương cơ quan đích và tiên lượng bệnh xấu hơn. Đồng thời ở những đối tượng có huyết áp trung bình ban ngày cao thì tỷ lệ có đỉnh huyết áp buổi sáng cao và đây là một nguy cơ độc lập cho bệnh tim mạch [3]. - Biến thiên huyết áp 24 giờ: Từ Biểu đồ 3.1, cả hai nhóm THA ÂG và nhóm không THAÂG đều có 2 khỏang tăng và giảm huyết áp, tuy nhiên ở nhóm THA ÂG mức huyết áp cao hơn và biên độ dao động huyết áp lớn hơn nhóm không THA ÂG. Điều này cho thấy đặc tính nguy hiểm về giá trị và biên độ dao động huyết áp ở nhóm THA ẩn giấu nguy cơ gây nhiều biến chứng tim mạch hơn. Kết quả này của chúng tôi cũng tương đương với các nghiên cứu trong nước và nước ngoài [1], [2], [10]. Nhịp sinh lý huyết áp ngày đêm thường có hình ảnh dao động với đỉnh huyết áp cao vào khỏang 9 giờ sáng và 7 giờ  tối, hạ xuống nhẹ quanh thời điểm 3 giờ chiều và hạ xuống sâu nhất quanh thời điểm 3 giờ sáng, biên độ dao động cũng thường quanh 10% so với huyết áp trung bình ban ngày [3].

Hình ảnh dao động tương tự cũng thấy đối với huyết áp trung bình (MAP). Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng thu được kết quả tương tự, ở nhóm không có THA ẩn giấu: Biến thiên HATB trong 24 giờ với biên độ nhỏ, dao động ở mức 89,3 ± 2,2mmHg và biên độ dao động lớn nhất là 9,6 mmHg; ngược lại, ở nhóm có THA ẩn giấu thì biến thiên HATB trong 24 giờ ở biên độ  lớn hơn, dao động ở  mức 106,2 ± 5,5mmHg và biên độ dao động lớn nhất là 22,7mmHg. HATB cao nhất vào lúc 17h30-17h59 ở mức 117,8mmHg và thấp nhất vào lúc 00h30-00h59 ở mức 95,1 mmHg. Biến thiên huyết áp 24 giờ tương đối giống nhau ở cả bệnh nhân tăng huyết áp và người bình thường. Qua kết quả này, cho thấy đối tượng THA ẩn giấu cần được quan tâm đúng mức như đối tượng có THA thực sự.

- Huyết áp lúc thức giấc (đỉnh huyết áp buổi sáng): Trong nghiên cứu của chúng tôi, huyết áp lúc thức giấc (136,7 ± 16,1/91,9 ± 15,5) ở nhóm có THA ẩn giấu cao hơn nhóm không THA ẩn giấu (p < 0,05) và tỷ lệ có THA lúc thức giấc ở nhóm THA ẩn giấu (93,3%) cao hơn nhóm không THA ẩn giấu (p < 0,05). Kết quả này tương tự nghiên cứu của Thomas G. Pickering và cộng sự khi khảo sát 123 bệnh nhân tăng huyết áp thì có 102 người có đỉnh huyết áp buổi sáng (chiếm 82,9%). Một số nghiên cứu hiện nay cho thấy huyết áp vọt cao trong những giờ đầu buổi sáng liên quan với gia tăng nguy cơ đột quỵ, nhồi máu cơ tim vào những giờ đầu lúc sáng sớm [2]. Điều này cho thấy các biến thiên huyết áp ở người THA ẩn giấu cũng tương tự người THA thực sự và cần được theo dõi đúng mức [10]. Tuy nhiên hiện nay cả thầy thuốc và bệnh nhân đều chưa quan tâm đến vấn đề này.

- Trạng thái “Không có trũng”: Nghiên cứu của chúng tôi thấy tỷ  lệ “Không có trũng” huyết áp ban đêm ở nhóm THA ẩn giấu và nhóm không có THA ẩn giấu khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Kết quả này tương đương với các tác giả khác; Nguyễn Hữu Trâm Em và cộng sự (2002) khi nghiên cứu holter huyết áp của 152 người thấy ở người không THA tỷ lệ “Không có trũng” là 61%, người có THA là 63,5% và tỷ lệ này tăng dần ở người lớn tuổi hơn (từ 21 - 40 tuổi: 38%, từ 41 – 60 tuổi: 69,2% và trên 60 tuổi là 76,9%) [1]. Hầu hết các nghiên cứu đều có kết quả từ 60% đến 80% THA ẩn giấu “Không có trũng”. Những năm gần đây nhiều nghiên cứu quan tâm đến trạng thái “Không có trũng” và cho rằng đây là yếu tố nguy cơ độc lập đối với các bệnh lý tim mạch [3], [8]. Những người “Không có trũng” cho thấy mức huyết áp trung bình 24 giờ cao hơn người “có trũng”, kết quả thương tổn cơ quan đích (dày thất trái, suy tim, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, tổn thương thận, đáy mắt,..) và có tiên lượng bệnh xấu hơn. Đồng thời những người “Không có trũng” cũng có tỷ lệ cao đỉnh huyết áp buổi sáng và là một nguy cơ cho bệnh tim mạch [3], [6], [10].

- Tỷ lệ “Quá tải huyết áp”: Kết quả của chúng tôi, tỷ lệ % quá tải huyết áp (tâm thu và tâm trương; ban ngày và ban đêm) ở nhóm THA ẩn giấu cao hơn nhóm không THA ẩn giấu (p < 0,05); đối với THA ẩn giấu, quá tải đối với huyết áp tâm thu từ 63% đến 65% và quá tải đối với huyết áp tâm trương từ 59% đến 67%. Cho thấy khỏang 2/3 số đối tượng THA ẩn giấu có tăng công của tim và thành mạch, điều này giải thích tỷ lệ biến chứng tim mạch ở THA ẩn giấu cũng tương đương với THA thực sự.

5. KẾT LUẬN

Qua theo dõi huyết áp bằng kỹ thuật Holter huyết áp 24 giờ của 70 người THA được điều trị ổn định và 70 người có YTNC tim mạch, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

(1) Tỷ lệ tăng huyết áp ẩn giấu: Tỷ lệ THAÂG là 21,4%; trong đó tỷ lệ THAÂG ở nhóm THA là 22,9% và ở nhóm YTNC là 20,0%.

(2) Đặc điểm biến thiên huyết áp trong 24 giờ ở bệnh nhân tăng huyết áp ẩn giấu:

- Giá trị trung bình HATT và HATTr (ban ngày, ban đêm và 24 giờ) giữa nhóm THAÂG cao hơn nhóm không THAÂG (p < 0,05).

- Biến thiên huyết áp trong 24 giờ: Cả hai nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG đều có 2 khỏang tăng và giảm huyết áp, tuy nhiên ở nhóm THAÂG mức huyết áp cao hơn và biên    độ dao    động huyết áp lớn hơn nhóm không THAÂG.                Ở  nhóm  THAÂG, có 2 khỏang tăng huyết áp, lần lượt            ở  mức 150,3     ± 22,0mmHg/100,9     ±  19,1mmHg và 147,3   ± 19,7mmHg/96,3     ± 13,3mmHg; có 2 khỏang huyết áp giảm, lần lượt                 ở  mức 133,3 ± 16,2mmHg/85,3 ± 13,2mmHg và 129,3 ± 13,3mmHg/80,8 ± 15,2mmHg.

- Huyết áp trung bình (Mean Arterial Pressure – MAP)          ở  nhóm  THAÂG (trung bình           106,2 mmHg, thấp nhất 96,9mmHg, cao nhất 117,4mmHg)  luôn ở mức cao hơn nhóm không THAÂG (trung bình 89,3mmHg, thấp nhất 84,4mmHg, cao nhất 95,6mmHg), p < 0,01.

- Nhịp tim trung bình ở nhóm THAÂG (trung bình 75 lần/phút, thấp nhất 65 lần/phút, cao nhất 84 lần/phút) cao hơn nhẹ so với nhóm không THAÂG (trung bình 72 lần/phút, thấp nhất        63 lần/phút, cao nhất 81 lần/phút), p < 0,05.

- Huyết áp lúc thức giấc       ở nhóm THAÂG cao hơn nhóm không THAÂG (136,7          ± 16,1/91,9 ± 15,5 mmHg so với 121,2 ± 11,7/76,6 ± 9,1mmHg, p < 0,05). Tỷ lệ có THA lúc thức giấc ở nhóm THAÂG là 93,3% cao hơn nhóm không THAÂG là 62,7% (p < 0,05).

- Tỷ lệ có trũng (dipper) và tỷ lệ không có trũng (non-dipper) huyết áp ban đêm giữa nhóm THAÂG và nhóm không THAÂG khác biệt không có   nghĩa thống kê.

- Tỷ lệ % quá tải huyết áp ở nhóm THAÂG cao hơn nhiều so với nhóm không THAÂG     (p < 0,05); lần lượt ở hai nhóm là HATT ban ngày (63,1% so với 14,2%), HATTr ban ngày (67,0% so với 18,6%), HATT ban đêm (65,4% so với 22,7%) và HATTr ban đêm (58,9% so với 20,9%).


Chia sẻ:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thân Hồng Anh, Quách Ngân Hà (2009), Một số đặc điểm tăng huyết áp ẩn giấu được phát hiện bằng đo huyết áp lưu động 24 giờ, Kỷ yếu Hội nghị Tim mạch toàn quốc lần thứ XII.

2. Nguyễn Hữu Trâm Em, Phan Văn Duyệt, Ngô Ngọc Ngân Linh, Phan Thanh Hải (2002), “Khảo sát nhịp sinh học huyết áp bằng kỹ thuật theo dõi huyết áp 24 giờ  - ABPM,              Kỷ yếu Hội nghị Tim mạch quốc gia Việt Nam lần thứ IX.

3. Huỳnh Văn Minh, Lê Thanh Hải (2006), Mối liên quan giữa tình trạng có trũng hay không có trũng huyết áp ban đêm và nguy cơ bệnh lý tim mạch, tr 1-12.

4. Huỳnh Văn Minh (2010), Tăng huyết áp ẩn giấu, Kỷ yếu Hội nghị Tim mạch toàn quốc lần thứ XII.

5. Vũ Hà Nga Sơn, Bùi Minh Thu (2006), “Nghiên cứu các đặc tính huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp bằng holter 24 giờ”, Kỷ yếu báo cáo tóm tắt Hội nghị khoa học Tim mạch toàn quốc lần thứ XI, trang 6-7.

6. Fabio Angeli, Gianpaolo Reboldi and Paolo Verdecchia (2010), Masked Hypertension: Evaluation, Prognosis, and Treatment, American Journal of Hypertension, Vol 23, pp 941-48.

7. Longo D., Dorigatti F., Palatini P. (2005), Masked hypertension in adults, Blood Press Monit, Vol 10(6), pp 307-10.

8. Pascal Delsart et al (2010), Should we screen for masked hypertension in patients with vascular disease?, Vascular Health and Risk Management, Vol 6, pp 333-38.

9. Takayoshi Ohkubo et al (2005), Prognosis of masked hypertension and white-coat hypertension detected by 24-h Ambulatory Blood Pressure Monitoring: 10-years follow-up from the Ohasama study, J.Am.Coll.Cardiol., Vol 46, pp 508-15.

10. Thomas G. Pickering, Karina Davidson; William Gerin; Joseph E. Schwartz (2002), Masked hypertesion, Hypertension, Vol 40, pp 795-99.

 
Các tin khác
Nghiên cứu huyết áp lưu động 24 giờ ở bệnh nhân tăng huyết áp áo choàng trắng và tăng huyết áp thực sự (8/11/2014)
Mối tương quan giữa nồng độ acid uric huyết thanh với các thành tố của hội chứng chuyển hóa, chỉ số Sokolow- lyon, chức năng thận (8/11/2014)
 
Chủ đề
Tim mạch dự phòng
Bệnh mạch vành
Bệnh van tim
Suy tim
Bệnh tim bẩm sinh
Rối loạn nhịp tim
Đột quỵ não
Bệnh động mạch ngoại vi
Kho tai lieu
LIÊN KẾT
HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM
VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM
DỰ ÁN PHÒNG CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP
 
Bìa tạp chí số 63-2013
Hội Tim mạch học Việt Nam
Viện Tim mạch
 
   
     
 
Trang chủ Các số Tạp chí Tin hoạt động Nghiên cứu Quan điểm Đào tạo Sức khoẻ cho Cộng đồng Kho tài liệu