Nghiên cứu Lâm sàng
Thứ 4, 18/9/2019
Đánh giá hiệu quả hạ huyết áp và khả năng dung nạp của Lercanidipine so với Amlodipine ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp bằng huyết áp lưu động 24 giờ
Tác giả: Cao Trường Sinh, Nguyễn Thị Thúy Ngân - Đại học Y khoa Vinh
TCTMHVN Số 69-2015; 156:26-33 - Tải PDF Print E-mail
 

EVALUATING ANTIHYPERTENSIVE EFFECTS AND TOLERANCE OF LERCANIDIPNE VERSUS AMLODIPINE IN PATIENTS WITH ISCHEMIC STROKE WITH HYPERTENSION BY AMBULATORY BLOOD PRESSURE MONITORING

Mục đích: Đánh giá hiệu quả hạ huyết áp và tác dụng phụ của lercanidipine so với amlodipine ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp bằng theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ.

Đối tượng và phương pháp: 104 bệnh nhân có huyết áp 24 giờ ≥ 130/90 mmHg được chia ngẫu nhiên làm 2 nhóm, 52 bệnh nhân dùng lercanidipine 20mg/ngày và 52 bệnh nhân dùng amlodipine 10mg/ngày. Sau 4 tuần, bệnh nhân được theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ lần 2 để đánh giá hiệu quả của thuốc.

Kết quả: Mức độ giảm huyết áp tâm thu/tâm trương 24 giờ và ban đêm của lercanidipine thấp hơn có ý nghĩa so với amlodipine (17,0/8,2 và 13,7/8,1 mmHg so với 23,4 /12,7 và 23,7 / 13,8 mmHg, p <0,05 và <0,01 tương ứng). Tỷ lệ đáy đỉnh của lercanidipine là 0,61 và 0,52; của amlodipine là 0,75 và 0,73 cho huyết áp tâm thu/tâm trương. Chỉ số êm dịu của lercanidipine là 0,79 và 0,57; của amlodipine là 1,22 và 1,0 cho huyết áp tâm thu/tâm trương. Tỷ lệ tác dụng phụ của lercanidipine thấp hơn có ý nghĩa so với amlodipine (5,7% so với 19,2%).

Kết luận: Mức độ giảm huyết áp tâm thu/tâm trương 24 giờ và ban đêm của lercanidipine thấp hơn  amlodipine. Lercanidipine làm giảm tỷ lệ vọt huyết áp sáng sớm so với trước điều trị. Tỷ lệ tác dụng phụ của lercanidipine thấp hơn có ý nghĩa so với amlodipine. Nên sử dụng lercanidipine ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp.

Abstract

Aim: Evaluating effects and side effects of lercanidipne versus amlodipine in patients with cerebral ischemic stroke with hypertension by ambulatory blood pressure monitoring (ABPM).

Methods: 104 patients who had the mean blood pressure 24h ≥ 130/90 mmHg were received antihypertensive treatment and were divided randomly in two parallel groups study, 52 patients received lercanidipin 20 mg/day and 52 patients received amlodipine 10 mg/day. After 4 weeks, the patients of two groups were taken second ABPM to evaluate the effects of drugs.

Results: The level of reduction in systolic blood pressure/diastolic 24 hours and the nightime of lercanidipine significantly lower than amlodipine (17.0/ 8.2 và 13.7 / 7.1 mmHg versus to 23.4 /12.7 and 23.7/13.8 mmHg, p <0.05 and <0.01 respectively). Trough/peak ratios of lercanidipine were 0.61 and 0.52 for systolic/diastolic blood pressure; that of amlodipine were 0.75 and 0.73 for systolic/diasystolic blood pressure. Smoothness index of lercanidipine were 0.79 and 0.57 for systolic/diastolic blood pressure;  that of amlodipine were 1.22 and 1.0 for systolic/diasystolic blood pressure in patients with ischemic stroke having hypertension. The rate of side effects of lercanidipine significantly lower than with amlodipine (5.7% vs. 19.2%, p <0.05).

Conclusion:The rate of side effects of lercanidipine significantly lower than with amlodipine. Shoud use lercanidipine in in patients having ischemic stroke with hypertension.

Keywords: ABPM (ambulatory blood pressure monitoring-ABPM), hypertension, morning surge, ischemic stroke, trough/peak ratios, smoothness index.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng, ước tính là nguyên nhân gây tử vong 7,1 triệu người trên thế giới [4]và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [16].

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, nhồi máu não chiếm khoảng 80% trong tai biến mạch máu não là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chỉ đứng sau bệnh tim mạch và ung thư [15]. Ở Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 500.000-750.000 bệnh nhân tai biến mạch máu não mới và tái phát [1].

Trên thực tế lâm sàng, một số bệnh nhân nhồi máu não vào viện có tăng huyết áp được dùng thuốc ngay trong giai đoạn cấp không kể mức độ huyết áp như thế nào. Do vậy, để chọn thời điểm dùng thuốc hạ huyết áp hợp lý, đạt hiệu quả, giảm biến chứng tụt huyết áp do tác dụng của thuốc cần thiết phải theo dõi huyết áp thường xuyên trong giai đoạn cấp để đánh giá biến đổi huyết áp và phân biệt được bệnh nhân có tăng huyết áp từ trước hay là tăng huyết áp phản ứng khi bị nhồi máu não.

Để lựa chọn một số thuốc có tác dụng trên huyết áp ở bệnh nhân nhồi máu não chúng tôi tiến hành “Đánh giá hiệu quả và khả năng dung nạp của lercanidipine so với amlodipine ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp bằng theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ”.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

104 bệnh nhân: 52 người (30 nam, 22 nữ, tuổi trung bình 64,6 ± 9,7) được điều trị bằng lercanidipine và 52 người (30 nam, 22 nữ 65,4 ± 10,8 ) được điều trị bằng amlodipine; từ tháng 5/2009-7/2012 tại bệnh viện Đa khoa Nghệ An và bệnh viện Trung ương Huế.

Loại trừ: THA thứ phát, HA ≥ 220/120 mmHg kèm theo phình tách động mạch chủ, nhồi máu cơ tim , khó thở do suy tim trái cấp, tổn thương đáy mắt cấp, đái ít... do THA kịch phát; chảy máu dưới nhện; hôn mê sâu Glasgow 3 điểm; xuất huyết não; bệnh nhân có tăng huyết áp phản ứng trong giai đoạn cấp. Bệnh nhân có chống chỉ định dùng lercanidipine và amlodipine; Điều trị không đủ thời gian hoặc bỏ điều trị.

2.2. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng, chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện

- Cách thức tiến hành:

104 bệnh nhân có huyết áp 24 giờ ≥ 130/80mmHg không có chỉ định phải dùng thuốc hạ huyết áp cấp cứu, không có chống chỉ định dùng thuốc lercanidipine hoặc amlodipine, tình nguyện tham gia nghiên cứu được ngẫu nhiên chia vào một trong 2 nhóm(theo phương pháp chọn khối ngẫu nhiên cỡ khối là 8). Nhóm 1 dùng lercanidipine 20 mg/ngày uống vào buổi sáng liên tục trong 4 tuần. Nhóm 2 dùng amlodipine liều 10 mg/ngày cách dùng tương tự như nhóm 1. Sau 4 tuần đánh giá kết quả bằng theo dõi huyết áp lưu động lần 2.

Tiêu chí đánh giá tác dụng của thuốc:huyết áp lưu động 24 giờ, ban ngày, ban đêm, tỷ lệ vọt huyết áp sáng sớm trước và sau điều trị. Tỷ lệ đáp ứng điều trị và tỷ lệ có huyết áp trở về bình thường. Tỷ lệ đáy đỉnh và chỉ số êm dịu. Tỷ lệ tác dụng phụ như phù cổ chân, bừng mặt, nôn, buồn nôn, tụt huyết áp, đau đầu, chóng mặt.

- Tiêu chuẩn các biến số

+ Vọt HA sáng sớm: HATT và HATTr tăng lên ít nhất 20/15mmHg tính từ HA thấp nhất trong quá trình ngủ đến trung bình 2 giờ đầu tiên sau khi tỉnh giấc[9].
+ Đáp ứng điều trị khi: Trung bình HA 24h giảm so với trước khi dùng thuốc ≥ 15mmHg đối với HATT hoặc ≥ 10 mmHg đối với HATTr [5],[12]
+ HA trở về bình thường khi: HA 24 giờ <130/80 hoặc HA ngày <135/85 mmHg [5]
+ Tỷ lệ đáy đỉnh: T/P =   ∆HA lúc thấp nhất trung bình 2 giờ cuối (6h-8h)/ ∆HA lúc cao nhất trung bình 2 giờ kế tiếp trong khoảng 2-8 giờ sau giờ uông thuốc [13]
+ Chỉ số êm dịu (Smoothness Index) SI =        [13]

Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý trên máy tính bằng chương trình SPSS 20

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đầu vào 2 nhóm nghiên cứu

Bảng 3.1. Đặc điểm của đối tượng trước khi dùng thuốc

Biến số

Lercanidipine (1)

Amlodipine (2)

p

Tổng số bệnh nhân

52 (100%)

52 (100%)

 

Tuổi TB (năm)

64,6 ± 9,7

65,4 ± 10,8

> 0,05

Chiều cao TB (cm)

158,5 ± 5,8

158,4 ± 6,1

> 0,05

Cân nặng TB (kg)

50,0 ± 9,4

49,0 ± 9,2

> 0,05

Huyết áp lâm sàng (mmHg)

 

 

 

          HATT

168,9 ± 21,6

167,1 ± 19,9

> 0,05

          HATTr

96,2 ± 13,6

97,7 ± 14,5

> 0,05

Huyết áp 24h(ABPM)

 

 

 

        HATT (mmHg)

154,4 ± 15,2

156,4 ± 17,6

> 0,05

        HATTr (mmHg)

89,9 ± 10,3

90,2 ± 12,8

> 0,05

 TS tim TB 24h (ck/phút)

75,3 ± 12,4

75,1 ± 12,2

> 0,05

Glucose máu lúc đói (mmol/l)

6,59 ± 2,62

6,05 ± 2,04

> 0,05

Tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ

2(3,8%)

6(11,5%)

> 0,05

Đầu vào nghiên cứu của nhóm dùng lercanidipine và amlodipine tương đương nhau

3.2. Tác dụng của lercanidipine so với amlodipine trên huyết áp

3.2.1. Đánh giá mức độ giảm HA bằng huyết áp lưu động 24 giờ(ABPM)

Bảng 3.2. Trung bình huyết áp tâm thu, tâm trương trước và sau điều trị


HA(mmHg)

Lercanidipine (1)

Amlodipine (2)

TĐT

SĐT

p

TĐT

SĐT

p

HATT

 

 

 

 

 

 

 

 

 24h

154,4
±15,2

137,4
±17,2

17,0
±10,1

<0,001

156,4
±17,6

132,9
±14,0

23,5
±17,3

<0,001

p(∆) 1-2

0,0233

Ban ngày

155,9
±16,1

137,8
±17,2

18,1
±10,6

<0,001

157,3
±17,8

133,9
±14,7

23,3
±18,6

<0,001

p(∆)

0,0829

Ban đêm

150,0
±16,0

136,3
±19,5

13,7
±16,2

<0,001

152,8
±19,1

129,2
±13,2

23,7
±17,4

<0,001

p(∆)

0,0031

HATTr

 

 

 

 

 

 

 

 

24h

89,9
±10,3

81,7
±11,0

8,2
±8,5

<0,001

90,2
±12,8

77,4
±8,8

12,7
±10,3

<0,001

p(∆)

0,0168

Ban ngày

90,3
±11,0

82,1
±11,2

8,1
±8,9

<0,001

90,7
±12,6

78,0
±9,2

12,7
±10,6

<0,001

p(∆)

0,0184

Ban đêm

87,9
±10,3

80,8
±12,3

7,1
±11,8

<0,001

88,3
±14,6

74,4
±9,5

13,8
±11,6

<0,001

p(∆)

0,0043

TĐT: Trước điều trị; SĐT: Sau điều trị; ∆: Hiệu số huyết áp trước và sau điều trị

Sau 4 tuần điều trị:  lercanidipine làm giảm huyết áp tâm thu 24 giờ, ngày đêm lần lượt từ 154,4 ±15,2 mmHg, 155,9 ±16,1 mmHg, 150,0 ±16,0 mmHg xuống còn 137,4 ±17,2 mmHg, 137,8 ±17,2 mmHg, 136,3 ±19,5 mmHg tương ứng. Sự khác biệt trước sau điều trị có ý nghĩa. Giảm huyết áp tâm trương 24 giờ, ngày, đêm lần lượt từ 89,9 ±10,3 mmHg, 90,3 ±11,0 mmHg,  87,9 ±10,3 mmHg. Sự khác biệt trước sau điều trị có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 tương ứng.
Amlodipine làm giảm huyết áp tâm thu 24 giờ, ngày, đêm lần lượt từ 156,4 ±17,6 mmHg, 133,9 ± 14,7 mmHg, 152,8 ±19,1 xuống còn 132,9 ±14,0 mmHg,  133,9 ±14,7,  129,2 ±13,2 mmHg tương ứng. Huyết áp tâm trương 24 giờ, ngày, đêm giảm từ 90,2 ±12,8 mmHg, 90,7 ±12,6 mmHg, 88,3 ±14,6 mmHg xuống còn  77,4 ± 8,8 mmHg, 78,0 ± 9,2 mmHg, 74,4 ±9,5 mmHg tương ứng. Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,001 tương ứng.

Amlodipine làm giảm trung bình huyết áp 24h và trung bình huyết áp ban đêm nhiều hơn lercanidipine (23,4±17,3/12,7±10,3 mmHg và 23,7±17,4/13,8±11,6 mmHg so với 17,0±10,1 mmHg và 8,2 ± 8,5 mmmHg, p< 0,05). Mức độ giảm trung bình huyết áp ban ngày ban ngày của 2 nhóm thuốc khác nhau không có ý nghĩa (p >0,05).

3.2.2.Tỷ lệ đáp ứng và huyết áp trở về bình thường

- Đối với lercanidipine: Tỷ lệ đáp ứng điều trị là 34,6% (18/52 bệnh nhân), bình thường hóa là 30,8% (16/52 bệnh nhân).

- Đối với amlodipine là 48,1% (25/52 bệnh nhân), bình thường hóa là 44,2% (23/52 bệnh nhân)

3.2.3. Tỷ lệ đáy đỉnh (T/P) và chỉ số êm dịu (SI)

Tỷ lệ đáy đỉnh của lercanidipine trên bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp là 0,61 đối với HATT và 0,52 với HATTr; của amlodipine là 0,75 đối với HATT và 0,73 đối với HATTr;

Chỉ số êm dịu của lercanidipine là 0,79 đối với HATT và 0,57 đối với HATTr; của amlodipine là 1,22 cho HATT và 1,0 cho HATTr. Chỉ số êm dịu của amlodipine cao hơn lercanidipine ở bệnh nhân nhồi máu não có THA.

3.3. Tác dụng phụ của lercanidipine so với amlodipine

Bảng 3.4. Tác dụng phụ của lercanidipine so với amlodipine

Triệu chứng

Lercanidipine

Amlodipine

p

n

%

n

%

 

Tỷ lệ chung

3

5,7

10

19,2

0,0379

Phừng mặt

3

5,7

8

15,4

0,11

Phù cổ chân

2

3,8

4

7,7

0,665

Đau đầu

0

0,0

2

3,8

(-)

Chóng mặt

0

0,0

1

1,9

(-)

Tổng T/d phụ

5

9,6

15

28,8

0,0253

Phừng mặt+Phù

2

3,8

5

9,6

0,429

Phừng mặt+ Phù +đau đầu

0

0,0

2

3,8

(-)

Tổng≥ 2 T/d phụ

2

3,8

7

13,6

0,154

Tỷ lệ BN có tác dụng phụ và tỷ lệ tổng tác dụng phụ của nhóm dùng amlodipine cao hơn nhóm dùng lercanidipine có ý nghĩa ( p=0,0379 và 0,0253).

4.. BÀN LUẬN

4.1. Đánh giá tác dụng hạ HA của lercanidipine so với amlodipine bằng theo dõi huyết áp lưu động 24 giờ

4.1.1. Mức độ giảm HA, tỷ lệ đáp ứng và trở về bình thường

Campo và cs ở Madrid Tây ban nha cho thấy, sau 6 tháng dùng Lercanidipine liều 10-20 mg HA đo ABPM giảm có ý nghĩa 9,1 ± 10,9 mmHg đối với HATT và 4,8 ± 6,4 mmHg đối với HATTr ngày. Vào cuối nghiên cứu có 58% được kiểm soát HA đối với HA phòng khám và chỉ có 41,2% có HA ban ngày <135/85 mmHg[5].

Hernandez và cs ở Venezuela năm 2001 theo phương pháp mù đôi, so sánh hiệu quả của amlodipine và nifedipine GITS bằng phương pháp đo PK và ABPM trên 58 BN chia 2 nhóm, 30 người dùng amlodipine 5 mg/ngày và 28 người dùng nifedipine GITS 30 mg/ngày, sau 4 tuần điều trị cho thấy giảm HA ở 2 nhóm tương đương nhau. ABPM cho thấy nhóm nifedipine GITS giảm HA có ý nghĩa ngay ngày đầu tiên trong khi đó nhóm amlodipin giảm không đáng kể.Giảm tối đa (đỉnh) HATT/HATTr là 26/15 mmHg sau 5-6 giờ dùng amlodipine và giảm ít nhất (đáy) là 22/13 mmHg. Tỷ lệ đáy đỉnh của amlodipine là 84,61% đối với HATT và 86,67% đối với HATTr[8].

Amlodipine làm giảm trung bình huyết áp 24h và trung bình huyết áp ban đêm nhiều hơn lercanidipine (23,4±17,3/12,7±10,3 mmHg và 23,7±17,4/13,8±11,6 mmHg so với 17,0 ±10,1 mmHg và 8,2 ± 8,5 mmmHg, p< 0,05). Mức độ giảm trung bình huyết áp ban ngày ban ngày của 2 nhóm thuốc khác nhau không có ý nghĩa (p >0,05).

Tỷ lệ đáp ứng và tỷ lệ huyết áp trở về bình thường giữa lercanidipine và amlodipine khác nhau không có ý nghĩa thống kê với p =0,163 và p = 0,156 tương ứng.   

4.1.2. Tỷ lệ đáy đỉnh và chỉ số êm dịu

Campo và cs tại Tây ban nha cho thấy sau 6 tháng điều trị Lercanidipine liều 10-20mg/ ngày, tỷ lệ đáy- đỉnh là 0,58 đối với HATT và 0,56 đối với HATTr; chỉ số êm dịu HATT là 0,82 và TTr là 0,51[5].

Joel M.Neutel và cộng sự năm 2003 cho thấy tỷ lệ đáp ứng điều trị khi theo dõi HA lưu động 24 giờ (ABPM) của amlodipine 5mg là 17,5 đối với HATT và 40,8% đối với HATT[13].           Trong nghiên cứu của chúng tôi: Tỷ lệ đáy đỉnh tâm thu của lercanidipine và amlodipine khác nhau không có ý nghĩa (p = 0,140). Tuy nhiên tỷ lệ đáy đỉnh tâm trương của lercanidipine thấp hơn có ý nghĩa so với amlodipine (p = 0,0258). Chỉ số êm dịu của amlodipine cao hơn lercanidipine ở bệnh nhân nhồi máu não có THA.

4.2. Tác dụng phụ của lercanidipine so với amlodipine

Gastone Leonetti và cs nghiên cứu đa trung tâm trên 828 người già, tuổi ≥ 60 bị THA được phân chia ngẫu nhiên dùng lercanidipine 10 mg/ngày (n=420), amlodipine 5 mg/ngày (n=200) hoặc lacidipine 2 mg/ngày (n=208) (tỷ lệ 2:1:1). Kết quả cho thấy, nhóm bệnh nhân dùng amlodipine có tỷ lệ phù 19% và tỷ lệ ngừng nghiên cứu  liên quan đến phù là 8,5% so với lercanidipine (9%và 2,1%) và lacidipine (4% và 1,4%). Tương tự, triệu chứng liên quan đến phù như là căng cổ chân và nặng cổ chân xẩy ra ở nhóm amlodipine (50% và 45%) cao hơn có ý nghĩa ở nhóm lercanidipine (35% và 33%) và lacidipine (34% và 31%). Hầu hết các trường hợp phù đều xẩy ra ở 6 tháng đầu. Hiệu quả giảm HA là tương đương nhau giữa 3 nhóm. Nghiên cứu đã đi đến kết luận là hiệu quả của 2 thuốc ức chế kênh canxi ái mỡ, lercanidipine và lacidipine có hiệu quả hạ HA có thể so sánh như là amlodipine nhưng khả năng dung nạp tốt hơn[11].

Nakarin Sansanayudh và cs tại Thái lan, nghiên cứu trên 80 bệnh nhân được chia làm 2 nhóm: nhóm 1 có 40 bệnh nhân dùng amlodipine 5 mg/ngày và nhóm 2 cũng 40 bệnh nhân dùng lercanidipine 10 mg/ngày. Mục đích nghiên cứu là so sánh sự thay đổi lượng nước cơ thể được đo bằng phương pháp phân tích trở kháng điện cơ thể giữa lercanidipine và amlodipine ở bệnh nhân THA ngoại trú nhằm so sánh tỷ lệ phù giữa 2 thuốc. Kết quả cho thấy: lượng nước cơ thể lúc bắt đầu nghiên cứu ở 2 nhóm là tương đương nhau. Sau điều trị, cả 2 nhóm đều thay đổi không có ý nghĩa lượng nước cơ thể so với lúc ban đầu. 7 bệnh nhân trong nhóm dùng amlodipine (17%) và không có bệnh nhân nào trong nhóm lercanidipine xuất hiện phù, p = 0,012. Trong số 7 bệnh nhân này, tổng lượng nước cơ thể, lượng nước ngoài tế bào, trong tế bào tất cả đều tăng có ý nghĩa so với lúc đầu[14].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.5 chỉ ra rằng; Tỷ lệ bệnh nhân có tác dụng phụ và tỷ lệ tổng tác dụng phụ của nhóm dùng amlodipine cao hơn nhóm dùng lercanidipine có ý nghĩa ( p=0,0379 và 0,0253). Điều này cho thấy lercanidipine có khả năng dung nạp tốt hơn amlodipine trên bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp.

KẾT LUẬN

Mức độ giảm huyết áp tâm thu/tâm trương 24 giờ và ban đêm của amlodipine nhiều hơn có ý nghĩa so với lercanidipine.

Tỷ lệ đáy đỉnh tâm thu và tâm trương của lercanidipine cũng như amlodipine đều > 50%, do vậy có thể dùng cả 2 thuốc ở bệnh nhân nhồi máu não có tăng huyết áp.

Lercanidipine làm giảm tỷ lệ vọt huyết áp sáng sớm có ý nghĩa so với trước điều trị và tác dụng tương đương với amlodipine trên thông số này.

Tỷ lệ tác dụng phụ của lercanidipine thấp hơn có ý nghĩa so với amlodipine.

Chia sẻ:

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Harold P. Adams, Lawrence Brass, Anthony Furlan et al (2007), Guidelines for the Early Management of Adults With Ischemic Stroke, AHA/ASA Guidelines, p 1655-1693.
  2. Vivencio Barrios et al (2002), Antihypertension Efficacy and Tolerability of Lercanidipine in Daily Clinical Practice. The ELYPSE Study, Blood Pressure 2002, Vol 11, p 95-100.
  3. Barrios et al (2006), Lercanidipine is an effective and well tolerated antihypertensive drug regardless the cardiovascular risk profile: The LAURA Study, Journal Clinical Practice, 60,11:1364-1370
  4. Norm Campbell et al (2010), Canadian Hypertension Education Program recommendations, An annual update, Canadian Family Physician- Le Medecin de famille canadien, p 649-653.
  5. Campo et al (2005), Correlations of smoothness index and trough-to-peak ratio with left ventricular mass index changes induced by lercanidipine in  hypertensive patient,  Minerva Med, 96 (5): 365-371.
  6. Flack J.M, Nasser SA (2011), Benefits of once-daily therapies in the treatmment of hypertension, Vase Health Risk Manag 2011; 7:777-787
  7. Goda. A et al (2010), Comparative effects of lercanidipine and amlodipine in treatment of mild to moderate hypertension, Journal of Hypertension, vol 28, e-Supplement A, p 277-278.
  8. Hernandez RH and al (2001), Comparative effects of amlodipine and nifedipine GITS during treatment and after missing two doses, Blood Press Monit 2001, 6(1):47-57.
  9. Iqbal. P and Louise Stevension (2011), Cardiovascular Outcomes in patients with normal and abnormal 24-hour ambulatory blood pressure monitoring, International Journal of  Hypertension, 4 pages.
  10. Yuan Jiao et al(2012), Reduction of the morning blood  pressure surge treated with  Olmesartan in Chinese patients with mild to moderate essential hypertension- a multicenter, open-label, single treatment group clinical study, European Review for Medical and Pharmacological Sciences, 16: 653-659.
  11. Gastone Leonetti et al (2002), Tolerability of Long- Term Treatment With Lercanidipine Versus Amlodipine and Lacidipine in Elderly Hypertensives, American Journal of Hypertension, Vol 15, p 932-940.
  12. Joel M. Neutel and David H.G. Smith (2003), Evaluation of Angiotensin II Receptor Blockers for 24-Hour Blood Pressure Control: Meta- Analysis of a Clinical Database, the journal of hypertension; Vol V, No 1: 58-63
  13. Omboni S, Zanchetti A (1998), Antihypertension efficacy of lercanidipine at 2.5, 5 and 10 mg in mild to moderate essential hypertensive assessed by clinic and ambulatory blood pressure measurements. Multicenter Study Investigators, Journal Hypertens 1998, 16:1831-1838.
  14. Narakin Sansanayudh et al (2010), Comparison of Changes of Body Water Measured by Using Bioelectrical Impedance Analysis  between Lercanidipine and Amlodipine Therapy in Hypertensive Outpatients, J Med Assoc Thai, Vol 93 Suppl, p 84-92.
  15. Thomas Truelsen et al (2000),  Global burden of cerebrovascular disease, Cerebrovascular diseases, p 1-67.
  16. WHO/ISH (2003), “Statement on management of Hypertension”, Journal of Hypertesion 2003, 21(11); 1983-1992.
 
Các tin khác
Đặc điểm lâm sàng của các trường hộ viêm cơ tim tại khoa nội tim mạch - Bệnh viện Chợ Rẫy (10/15/2014)
Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật đo áp lực trong lòng động mạch vành và dự trữ dòng chảy mạch vành bằng dây dẫn áp lực (PRESSURE WIRE) (10/15/2014)
Sự cải thiện các thông số siêu âm Doppler mô cơ tim ngay sau cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ tim ở bệnh nhân suy tim nặng (10/6/2014)
Nghiên cứu triệt đốt rung nhĩ bằng năng lượng sóng có tần số Radio dưới sự hỗ trợ của hệ thống Carto (8/23/2014)
Siêu âm Doppler mô cơ tim trong định hướng vị trí đường dẫn truyền phụ bất thường ở bệnh nhân có hội chứng w-p-w (8/23/2014)
Giá trị của phần mềm Quick-Opt của hãng st.jude trong lập trình máy tạo nhịp 3 buồng tim (8/23/2014)
Đặc điểm rối loạn nhịp tim ở bệnh nhân hội chứng vành cấp trong giai đoạn sớm qua theo dõi holter điện tâm đồ (8/23/2014)
Đánh giá kết quả điều trị suy tim sau nhồi máu cơ tim bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc tủy xương tự thân (8/23/2014)
Thay đổi tức thì sau cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ tim (8/23/2014)
Đánh giá kết quả phẫu thuật động mạch chủ có sử dụng mạch nhân tạo Silver Graft (8/23/2014)
Vai trò của điện tâm đồ bề mặt trong chẩn đoán phân biệt rối loạn nhịp thất khởi phát từ xoang valsalva với khởi phát từ đường ra thất phải (8/20/2014)
Khảo sát mối liên quan giữa tăng huyết áp ẩn giấu với các yếu tố nguy cơ tim mạch và tổn thương cơ quan đích (8/15/2014)
 
Chủ đề
Tim mạch dự phòng
Bệnh mạch vành
Bệnh van tim
Suy tim
Bệnh tim bẩm sinh
Rối loạn nhịp tim
Đột quỵ não
Bệnh động mạch ngoại vi
Kho tai lieu
LIÊN KẾT
HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM
VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM
DỰ ÁN PHÒNG CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP
 
Bìa tạp chí số 63-2013
Hội Tim mạch học Việt Nam
Viện Tim mạch
 
   
     
 
Trang chủ Các số Tạp chí Tin hoạt động Nghiên cứu Quan điểm Đào tạo Sức khoẻ cho Cộng đồng Kho tài liệu