Nghiên cứu Lâm sàng
Chủ nhật, 27/5/2018
Đánh giá kết quả đo phân suất dự trữ vành bằng thuốc cản quang gây triệt tiêu trở kháng mạch
Tác giả: Nguyễn Thế Huy*, Đinh Huỳnh Linh**,***, Đậu Thị Hằng ****, Nguyễn Quang Kha ***, Nguyễn Mạnh Hoạt ***, Dương Ngọc Long *** Phạm Mạnh Hùng **,*** - Trung tâm tim mạch BV E *, Bộ Môn Tim mạch ĐH Y Hà Nội **, Viện Tim mạch Việt Nam ***, Khoa Khám Bệnh - BV Bạch Mai
Print E-mail
 

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nghiên cứu kết quả, tính khả thi và một số yếu tổ ảnh hưởng kết quả đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành bằng thuốc cản quang Iopromide và Iohexol có đối chiếu sử dụng Adenosine tri phosphat.

Phương pháp nghiên cứu: 42 tổn thương động mạch vành hẹp mức độ vừa của 26 bệnh nhân đã được tiến hành đo phân suất dự trữ vành bằng 10 ml thuốc cản quang Iopromide hoặc Iohexol có đối chiếu với adenosine tri phosphate (ATP).

Kết quả: Giá trị phân suất dự trữ vành đo bằng thuốc cản quang (FFR cản quang) cao hơn giá trị phân suất dự trữ vành đo bằng adenosine-tri-phosphate (FFR adenosine) (0,89 [0.80 – 0,97]so với 0,82 [0,74 – 0,95], p=0,001). Có mối tương quan chặt giữa FFR cản quang và FFR adenosine (r = 0,939). Phân tích đường cong ROC cho thấy với giá trị FFR cản quang ≤ 0,83 có độ chính xác cao dự đoán FFR adenosine ≤ 0,80 (Diện tích dưới đường cong 0,965 [95% CI: 0,92 – 1,0], độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 94,1%) như vậy ngưỡng FFR cản quang = 0,87 có khả năng dự đoán tổn thương tốt nhất.

Kết luận: Sử dụng liều 10 ml cản quang Iopromide hoặc iohexol gây triệt tiêu trở kháng trong đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành là an toàn và có độ chính xác cao

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để đưa ra một chiến lược điều trị tối ưu bệnh lý mạch vành, người bác sỹ cần dựa trên nhiều yếu tố trong đó các thăm dò về giải phẫu và sinh lý mạch vành đóng vai trò quan trọng. Các thăm dò giải phẫu như chụp dựng hình đa lát cắt mạch vành (MSCT), chụp mạch vành qua da (PCI), siêu âm nội soi lòng mạch (IVUS), chụp số hóa quang học nội mạch (OCT) có hạn chế là không đánh giá được tình trạng thiếu máu cơ tim, không trả lời được câu hỏi liệu với mức độ tổn thương đó có thực sự ảnh hưởng tới khả năng cấp máu cơ tim hay không và có cần can thiệp hay không[1]. Đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành (Fractional Flow Reserve, viết tắt FFR) là biện pháp thăm dò sinh lý xâm nhập có ưu điểm hơn các biện pháp thăm dò sinh lý không xâm nhập khác (siêu âm tim gắng sức, chụp xạ hình cơ tim, chụp MRI đánh giá sống còn cơ tim) là được tiến hành ngay tại chỗ và đồng thời với quá trình chụp vành qua da. Điều kiện để đo chính xác phân suất dự trữ vành là mạch vành cần được triệt tiêu trở kháng tối đa. Tuy nhiên, sử dụng các thuốc gây triệt tiêu trở kháng có nhiều hạn chế và các tác dụng không mong muốn [2] . Xu hướng hiện nay là tìm ra các biện pháp tương đương sao cho đảm bảo kết quả đo phân suất dự trữ vành và hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc gây triệt tiêu trở kháng như sử dụng giá trị Pd/Pa hoặc đo iFR. Một số nghiên cứu gần đây đã chứng minh sử dụng thuốc cản quang có thể đo phân suất dự trữ vành, phương pháp này an toàn và có độ chính xác cao[3]. Đây là vấn đề mới trên thế giới và tại Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu về vấn đề này nên chúng tôi tiến hành đề tài với hai mục tiêu:

  1. Đánh giá tính khả thi và kết quả đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành bằng thuốc cản quang đối chiếu với sử dụng adenosine.
  2. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo phân suất dự trữ lưu lượng vành bằng thuốc cản quang.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm:

Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam từ 5/2015 đến 11/2015

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

  • Bệnh nhân được hội chẩn và có chỉ định chụp ĐMV qua đường ống thông.
  • Bệnh nhân có tổn thương ĐMV trên phim chụp mạch cản quang, có chỉ định thực hiện đo phân suất dự trữ lưu lượng vành nhằm mục đích quyết định có hay không can thiệp ĐMV. Chỉ định được áp dụng trong nghiên cứu là:
  • Bệnh nhân hẹp động mạch vành mức độ vừa (hẹp 50 – 70 % lòng mạch đánh giá bằng phần mềm chụp mạch QCA)[4] .

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • Bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp
  • Bệnh nhân có phì đại thất trái tiên phát hoặc thứ phát do các nguyên nhân: bệnh cơ tim phì đại, tăng huyết áp, bệnh van tim…
  • Bệnh nhân có tình trạng nội khoa nặng như suy thận nặng, nhiễm khuẩn nặng, bệnh lý ác tính giai đoạn cuối.
  • Bệnh nhân có chống chỉ định với adenosine triphosphate: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhịp chậm, blốc nhĩ thất chưa được đặt máy tạo nhịp
  • Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Quy trình thủ thuật:

  • Chụp ĐMV cho bệnh nhân qua đường động mạch quay hoặc động mạch đùi. Tiến hành đo FFR nếu có chỉ định.
  • Dụng cụ đo FFR gồm: Máy đo Radi Analyzer Xpress của hãng RadiMedical
  • System. Hệ thống dây dẫn cảm biến áp lực PressureWire Certus của hãng St.Jude Medical cùng bộ phận kết nối với máy đo Radi Analyzer Xpress. Đặc điểm dây dẫn cảm biến áp lực có cấu tạo phần đầu mềm, linh hoạt, vị trí cảm biến (sensor) cách đầu 03 cm, chiều dài dây dẫn 175 cm, đường kính 0.014 inch cùng cỡ với các dây dẫn can thiệp mạch vành khác.
  • Kết nối hệ thống theo dõi áp lực động mạch của bệnh nhân vào máy Radi AnalyzerX.
  • Kiểm tra dây dẫn áp lực: Kết nối dây dẫn cảm biến áp lực với máy đo thông qua bộ phận kết nối. Bơm đầy dung dịch muối sinh lý đã pha heparin (2500 UI heparin / 500 ml muối 0,9%) vào bộ chứa dây dẫn từ phía đầu dây. Tiến hành nhận cảm dây dẫn (calibrate) trên máy đo.
  • Đặt guiding can thiệp vào vị trí mạch cần đo FFR. Đưa dây dẫn cảm biến áp lực qua ống thông vào mạch vành. Khi phần cản quang đầu dây dẫn qua hết đầu ống thông (đồng nghĩa với vị trí cảm biến áp lực ở sát đầu ống thông) tiến hành cân bằng áp lực (Equalize) để đảm bảo áp lực của dây dẫn  tương đương áp lực ở đầu ống thông can thiệp. Chỉ khi trên máy đo hai đường đồ thị áp lực trùng vào một, trị số Pd/Pa bằng 1,0 mới tiếp tục tiến hành đo FFR. Đưa dây dẫn vượt qua tổn thương xuống đoạn xa của mạch cần đo.
  • Qua ống thông can thiệp bơm 200μg nitroglycerine để gây giãn ĐMV ở thượng tâm mạc. Ghi nhận giá trị Pd/Pa sau tiêm nitroglycerine.
  • Triệt tiêu trở kháng bằng thuốc cản quang:
    • Sử dụng thuốc cản quang Iopromide 300 hoặc Iohexol 300 (thay sang loại cản quang này nếu lúc trước đang
    • dùng loại khác). Tráng đầy ống thông can thiệp bằng thuốc cản quang.
    • Bơm mạnh 10 ml thuốc cản quang qua ống thông vào mạch vành (lựa chọn liều thuốc cản quang 10 ml dựa theo kết quả nghiên cứu của tác giả Spagnoli[5]).
    • Ghi nhận kết quả FFR cản quang (FFRcq) thu được trong vòng 10 giây đầu (thời gian ghi nhận kết quả dựa theo nghiên cứu của tác giả Leone A.M [6]). Tiến hành hai lần đo ghi nhận kết quả FFR thấp hơn trong hai lần đo.
    • Sau mỗi lần đo cần tráng lại ống thông bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9 % đã pha heparin.
    • Triệt tiêu trở kháng bằng adenosine
    • Triphosphate. Tiêm adenosine triphosphat đã pha loãng bằng nước muối sinh lý qua ống thông vào động mạch vành cần đo FFR (01 ống adenosine triphosphat 20 mg pha trong 250 ml muối sinh lý 0,9% tương đương 80 µg adenosine triphosphate / 1ml dung dịch) . Liều adenosine triphosphat sử dụng là 60μg và 120 μgvới ĐMV trái, 40μg và 80 μg với ĐMV phải. Ghi nhận chỉ số FFRadenosine (FFRad) thấp nhất thu được .
    • Kéo dây dẫn áp lực về đầu ống thông can thiệp, đảm bảo Pd/Pa khi đó bằng 1,0 để loại bỏ các sai số.

Xử lý số liệu

Các số liệu được thu thập theo mẫu bệnh án nghiên cứu và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Từ tháng 5/2015 đến tháng 11/2015, chúng tôi đã tiến hành đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành có sử dụng thuốc cản quang đối chiếu với sử dụng adenosine cho 42 tổn thương hẹp mạch vành của  26 bệnh nhân tại Viện tim mạch Quốc gia Việt Nam. Kết quả 19 tổn thương có FFRad ≤ 0,8 (dương tính), 23 tổn thương có FFRad > 0,8 (âm tính). Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu được trình bày ở bảng 1.

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Yếu tố

Giá trị n (%) hoặc  ± sx

     Số bệnh nhân

26

     Số tổn thương

42

     Tuổi

64,4 ± 7,4

     Nam giới

16 (61,5%)

Yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành

 

Nam ≥ 45 tuổi; Nữ ≥ 55 tuổi

24 (92,3%)

     Tăng huyết áp

20 (76.9%)

     Hút thuốc lá

13 (50%)

     Rối loạn lipid máu

6 (23,1%)

     Đái tháo đường

8 (30,7%)

BMI ≥ 24

7 (26,9%)

Tiền sử bệnh mạch vành

 

 Tiền sử nhồi máu cơ tim

2 (7,6%)

  Tiền sử can thiệp động mạch vành

9 (34,6%)

    Tiền sử phẫu thuật bắc cầu chủ   vành

0 (0%)

Chỉ định chụp vành

 

Đau thắt ngực ổn định

5 (19,2%)

Đau thắt ngực không ổn định

17 (65,3%)

Đau ngực không điển hình

4 (15,3%)

2.Đặc điểm tổn thương, đặc điểm và mối tương quan giữa giá trị FFR cản quang và FFR adenosine

2.1 Đặc điểm chung của các tổn thương

Bảng 2: Đặc điểm chung của tổn thương

Yếu tố

Giá trị n (%) hoặc  ± sx

Mức độ hẹp

58,8 ± 6,3 (%)

Chiều dài

30,4 ± 12,1

Vị trí tổn thương

n = 42

LAD

24 (57,3%)

Diagonal

4 (9,5%)

LCx

6 (14,3%)

OM

1 (2,3%)

RCA

7 (16,6%)

LMCA

0 (0%)

Cản quang đo FFR

 

Iopromide

33 (78,6%)

Iohexol

9 (21,4%)

2.2 Kết quả đo FFRadenosine, FFRcản quang và Pd/Pa


.
2.3 Tương quan giá trị FFR cản quang và FFR adenosine

Chúng tôi sử dụng phương trình tuyến tính tìm hiểu mối tương quan giữa giá trị FFR cản quang và FFR adenosine, thông qua hệ số tương quan r. Kết quả cho thấy có mối tương quan chặt giữa giá trị FFR cản quang và FFR adenosine với r = 0,939 (p<0,001). Giá trị FFR adenosine có thể ước tính gần đúng bằng giá trị FFR cản quang qua phương trình tuyến tính:
FFRadenosine   =    1,202  *  FFRcản quang   –    0,22

2.4 Ngưỡng chẩn đoán FFR adenosine dựa trên giá trị FFR cản quang

Sử dụng đường cong ROC để đánh giá khả năng dự đoán giá trị FFR adenosine dựa trên giá trị FFR cản quang và đề ra ngưỡng chẩn đoán tối ưu. Theo đó giá trị FFR cản quang có khả năng chẩn đoán cao đối với chỉ số FFR adenosine (diện tích dưới đường cong = 0,965 [95% CI: 0,92 – 1,0]). với FFR adenosine > 0,8 là âm tính và FFR adenosine ≤ 0,8 là dương tính thì các ngưỡng chẩn đoán FFR adenosine dựa trên giá trị FFR cản quangđược trình bày theo bảng 3 dưới đây:

Bảng 3: Ngưỡng chẩn đoán FFR adenosine ≤ 0,8 dựa trên giá trị FFR cản quang

Ngưỡng chẩn đoán

Độ nhạy
(%)

Độ đặc hiệu
(%)

Giá trị chẩn đoán đúng
(%)

Diện tích dưới đường cong

0,83

100

58,8

75,4

0,965
[95% CI: 0,92 – 1,0]

0,84

96

70,6

80

0,85

92

88,2

89,7

0,87

88

94,1

91,6

0,88

84

94,2

90

0,89

68

99

86,4

2.5 Tỷ lệ thành công và thất bại của thủ thuật

Thủ thuật được thực hiện thành công ở tất cả các tổn thương ĐMV cần đo FFR (42/42 tổn thương).

2.6 Tác dụng phụ và biến chứng

Bảng 4: tác dụng phụ và biến chứng

 

Adenosine

Thuốc cản quang

Adam-stokes

1 (3,8%)

0 (0%)

Ngưng xoang

8 (30,7%)

0 (0%)

Nhịp chậm

17 (65,3%)

0 (0%)

Thoát bộ nối

4 (15,3%)

0 (0%)

Chóng mặt

17 (65,3%)

0 (0%)

Tức ngực

12 (46,1%)

0 (0%)

Nôn, buồn nôn

19 (73,1%)

0 (0%)

Sốc phản vệ

0 (0%)

0 (0%)

Phản ứng dị ứng

0 (0%)

0 (0%)

Suy thận cấp

0 (0%)

0 (0%)

3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả đo phân suất dự trữ vành bằng thuốc cản quang

Bảng 5: Một số yếu tố ảnh hưởng

 

Đặc điểm

Diện tích dưới đường cong

Mức độ hẹp

50 – 60 %

0,92

60 – 70 %

0,93

Chiều dài tổn thương

≤ 20 mm

0,96

>20 mm

0,98

Vị trí tổn thương

LAD

0,969

LCx

1,00

RCA

1,00

BÀN LUẬN

Độ tuổi trung bình các bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi: 64,4 ± 7,4, trong đó nam giới chiếm chủ yếu (61,5%). Tỷ lệ yếu tố nguy cơ của nhóm đối tượng nghiên cứu khá cao, phần lớn BN chẩn đoán đau ngực không ổn định. Đây là nhóm đối tượng phổ biến trong các nghiên cứu về phân suất dự trữ vành trên thế giới.

Về đặc điểm tổn thương: các tổn thương trong nghiên cứu đều là tổn thương hẹp mức độ vừa. Chúng tôi chỉ thực hiện đo FFR tại các vị trí hẹp nghi ngờ và không có tổn thương nào được thực hiện kỹ thuật kéo ngược dây dẫn. Vị trí tổn thương ĐMV nhiều nhất là ĐM liên thất trước (57,3%) trong đó đoạn 2 chiếm tỷ lệ cao nhất (30%). Không có trường hợp nào tổn thương thân chung cần đo FFR trong nghiên cứu. Kết quả này của chúng tôi cũng tương đồng với một số tác giả Legalery[7] , Leone A.M, Huỳnh Trung Cang[8]. Trong các tổn thương của mình chúng tôi có 4 tổn thương hẹp vừa tại lỗ, bao gồm 2 trường hợp hẹp lỗ Diagnonal, 1 LCx và 1 hẹp lỗ nhánh OM. Cản quang sử dụng trong nghiên cứu đều thuộc nhóm không ion hóa trọng lượng phân tử thấp.

Giá trị trung vị Pd/Pa cao nhất 0,95 [0,90 – 0,99]. Giá trị trung vị FFR cản quang cao hơn so với giá trị trung vị FFR adenosine (0,89 [0.80 – 0,97]so với 0,82 [0,74 – 0,95]) (p = 0,001, test phi tham số so sánh 2 mẫu phân bố không chuẩn – Mann Whitney test). Có thể thấy các tổn thương trong nghiên cứu đều là tổn thương mức độ vừa, tuy nhiên giá trị FFR thu được dao động trong một khoảng khá rộng. Điều này cho thấy với cùng một tổn thương mạch vành  mức độ trung bình trên phim chụp có thể ảnh hưởng rất khác nhau đến khả năng tưới máu đoạn xa mạch vành.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan chặt giữa giá trị FFR cản quang và FFR adenosine với r = 0,939 (p<0,001). Kết quả này của chúng tôi cũng tương tự với nghiên cứu của Leone A.M (n=104, r=0,94, p<0,001), Spagnoli Vincent (n=138, r = 0,9, p<0,001) và Baptista S.B (n=98, r=0,93, p<0,001)[9]. Trên thực tế lâm sàng, phương trình tuyến tính thu được ít có ý nghĩa vị người bác sỹ can thiệp cần một công cụ nhanh và hiệu quả hơn giúp đánh giá chính xác chỉ số FFR. Thêm vào đó vì chúng tôi không đưa vào phân tích đa biến và khử nhiễu các yếu tố như vị trí mạch, tuổi, mức độ hẹp, chiều dài hẹp nên hệ số tương quan và phương trình tuyến tính thu được chưa thực sự khách quan. Tuy nhiên kết quả bước đầu này cho thấy sử dụng cản quang trong đo phân suất dự trữ vành có sự liên quan khá chặt chẽ với thuốc triệt tiêu trở kháng Adenosine-tri-phosphat.

Từ kết quả bảng 3 cho thấy với ngưỡng FFR cản quang = 0,87 thì có khả năng dự đoán FFR adenosine ≤ 0,8 tốt nhất nghĩa là dự đoán tổn thương tốt nhất ( độ nhạy 88%, độ đặc hiệu 94,1% và giá trị chẩn đoán đúng 91,6%). Diện tích dưới đường cong dự đoánFFR adenosine ≤ 0,8 dựa trên giá trị FFR cản quang của chúng tôi là 0,965 [95% CI: 0,92 – 1,0]. Kết quả này tương tự với các tác giả khác Leone A.M (AUC=0,98 [95% CI: 0,93 – 0,99]) và Baptista S.B (AUC=0,965 [95% CI: 0,936 – 0,994]).

Cũng từ kết quả bảng 3 với FFR cản quang ≤ 0,83 có giá trị chẩn đoán dương tính 100% và với FFR cản quang ≥ 0,89 có giá trị chẩn đoán âm tính 99%. Trong nghiên cứu này chúng tôi có 32/42 (76,2%) tổn thương có kết quả FFR cản quang ≤ 0,83 hoặc FFR cản quang ≥ 0,89. Điều này gợi ý nếu sử dụng kết quả FFR cản quang để quyết định can thiệp thì chúng ta chỉ phải sử dụng adenosine để xác nhận lại kết quả đo FFR cho 10/42 (23,8%) tổn thương mà thôi. Chúng tôi gọi khoảng FFR cản quang [0,84 – 0,88] là khoảng xám. Các nghiên cứu của các tác giả khác cũng gợi ý các khoảng xám khác nhau: Leone A.M [0,84 – 0,87], Baptista S.B [0,80 – 0,85][9], Spagnoli [0,82 – 0,85]. Do sự khác nhau về cỡ mẫu và quy trình kỹ thuật nên các ngưỡng thu được cũng khác nhau. Tuy nhiên với các khoảng xám này thì các nghiên cứu cho đã xây dựng các quy trình phối hợp giữa thuốc cản quang và adenosine để đo FFR. Trong đó sử dụng adenosine chỉ thực hiên khi kết quả đo FFR cản quang nằm trong khoảng xám. Điều này giúp hạn chế tối đa việc phụ thuộc vào adenosine trong đo phân suất dự trữ lưu lượng vành.

So sánh giữa giá trị Pd/Pa và FFR cản quang thu được chúng tôi nhận thấy:

  • Giá trị FFR cản quang có mối tương quan tuyến tính với FFR adenosine chặt chẽ hơn so với giá trị Pd/Pa với hệ số r lần lượt: 0,939 và 0,778 (p<0,001)
  • Giá trị FFR cản quang có khả năng dự đoán giá trị FFR adenosine cao hơn so với giá trị Pd/Pa với diện tích dưới đường cong ROC lần lượt là 0,965 và 0,86 (p<0,001)

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của các tác giả khác như Leone A.M, Spagnoli và kết quả của nghiên cứu CONTRAST[10].
Tỷ lệ biến chứng về nhịp khi sử dụng adenosine cao hơn so với dùng cản quang (p<0,05). Trong số các biến chứng về nhịp biến chứng hay gặp nhất là nhịp chậm (65,3%). Có 1 trường hợp xuất hiện cơn Adam-stokes phải cấp cứu ngừng tuần hoàn. 2 trường hợp ngưng xoang phải hỗ trợ nâng nhịp bằng atropin. Các trường hợp  khác rối loạn nhịp đều tự hồi phục.

Tỷ lệ tác dụng phụ khi sử dụng adenosine cao hơn so với dùng thuốc cản quang. Chóng mặt (65,3%) và buồn nôn (73,1%) là tác dụng phụ thường gặp nhất.

Không có trường hợp nào sốc phản vệ, bệnh thận cản quang do thuốc hoặc phản ứng dị ứng nghi ngờ do thuốc cản quang gây ra.

Qua phân tích diện tích dưới đường cong cho thấy khả năng chẩn đoán tổn thương của giá trị phân suất dự trữ lưu lượng vành bằng thuốc cản quang chính xác hơn đối với tổn thương có mức độ hẹp đường kính 60 – 70 %, có chiều dài tổn thương trên 20 mm và với các tổn thương của động mạch mũ và động mạch vành phải.

KẾT LUẬN

Sử dụng liều 10 ml cản quang Iopromide hoặc iohexol gây triệt tiêu trở kháng trong đo phân suất dự trữ lưu lượng mạch vành là an toàn và có độ chính xác cao khi đối chiếu với adenosine tri phosphat gây triệt tiêu trở kháng.

Chia sẻ:


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.         Đinh Huỳnh Linh. (2010). Đánh giá phân số dự trữ lưu lượng vành ở bệnh nhân có tổn thương động mạch vành, in Luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú. Trường đại học Y Hà Nội: Hà Nội.
2.         De Bruyne B, et al. (2003), Intracoronary and intravenous adenosine 5'-triphosphate, adenosine, papaverine, and contrast medium to assess fractional flow reserve in humans. Circulation. 107(14): p. 1877-83.
3.         Baile E.M., et al. (1999), Effect of contrast media on coronary vascular resistance: contrast-induced coronary vasodilation. Chest. 116(4): p. 1039-45.
4.         Kolh, P., et al. (2014), 2014 ESC/EACTS Guidelines on myocardial revascularization: the Task Force on Myocardial Revascularization of the European Society of Cardiology (ESC) and the European Association for Cardio-Thoracic Surgery (EACTS). Developed with the special contribution of the European Association of Percutaneous Cardiovascular Interventions (EAPCI). Eur J Cardiothorac Surg. 46(4): p. 517-92.
5.         Vincent Spagnoli, N.A., Jean Guillaume Dillinger et al. (2014). Coronary FFR measurement using contrast media: A possible alternative to adenosine. in Euro PCR.
6.         Leone A.M., et al. (2014), Efficacy of contrast medium induced Pd/Pa ratio in predicting functional significance of intermediate coronary artery stenosis assessed by fractional flow reserve: insights from the RINASCI study. EuroIntervention : journal of EuroPCR in collaboration with the Working Group on Interventional Cardiology of the European Society of Cardiology.
7.         Legalery P, et al. (2005), One-year outcome of patients submitted to routine fractional flow reserve assessment to determine the need for angioplasty. Eur Heart J. 26(24): p. 2623-9.
8.         Huỳnh Trung Cang. (2014), Nghiên cứu ứng dụng phân suất dự trữ lưu lượng động mạch vành trong can thiệp động mạch vành qua da, in luận văn tiến sĩ y học .Đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh: Hồ chí minh.
9.         Baptista S, Brizida L et al. (2014).Contrast-induced hyperemia in the functional evaluation of coronary lesions with a pressure wire. in Euro PCR.
10.       Matsumura M, et al. (2015), TCT-305 Accuracy of Fractional Flow Reserve (FFR) Measurements in Clinical Practice – Observations from a Core Laboratory Analysis. Journal of the American College of Cardiology. 66(15_S).

     

 
Các tin khác
HỖ TRỢ TUẦN HOÀN SAU PHẪU THUẬT TIM BẰNG BÓNG BƠM ĐỐI XUNG TRONG ĐỘNG MẠCH CHỦ (10/19/2016)
GIÁ TRỊ CỦA NT-proBNP TRONG TIÊN ĐOÁN BIẾN CỐ TIM MẠCH SAU PHẪU THUẬT NGOÀI TIM (10/19/2016)
VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ SvO2 TRONG TIÊN LƯỢNG HỒI SỨC BÙ DỊCH Ở BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT TIM CÓ NGUY CƠ CAO (10/19/2016)
BẪY ĐỘNG MẠCH KHOEO : KHÁI NIỆM, CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ (10/19/2016)
Biến chứng sớm của phương pháp đóng thông liên nhĩ lỗ thứ phát bằng dụng cụ qua thông tim can thiệp (10/17/2015)
Tìm hiểu đặc điểm một số biến chứng cơ học trong can thiệp động mạch vành qua da (10/17/2015)
So sánh một số đặc điểm điện sinh lý học về tính chất dẫn truyền của đường dẫn truyền phụ với đường dẫn truyền chính thống (10/17/2015)
Những thay đổi ngắn hạn tình trạng mất đồng bộ cơ tim ở bệnh nhân có hội chứng w-p-w được triệt phá bằng sóng có tần số radio (10/17/2015)
Kết quả áp dụng kỹ thuật ecmo trong hồi sức phẫu thuật tim bẩm sinh phức tạp tại Bệnh viện Trung ương Huế (9/24/2015)
Nghiên cứu giá trị tiên lượng tử vong của NT-proBNP ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp (9/24/2015)
Kết quả điều trị phẫu thuật hẹp động mạch cảnh tại Bệnh Viện Hữu Nghị Việt Đức (9/24/2015)
Nghiên cứu hiệu quả của phương pháp đóng thông liên nhĩ lỗ thứ phát bằng dụng cụ qua thông tim can thiệp (9/21/2015)
 
Chủ đề
Tim mạch dự phòng
Bệnh mạch vành
Bệnh van tim
Suy tim
Bệnh tim bẩm sinh
Rối loạn nhịp tim
Đột quỵ não
Bệnh động mạch ngoại vi
Kho tai lieu
LIÊN KẾT
HỘI TIM MẠCH HỌC VIỆT NAM
VIỆN TIM MẠCH VIỆT NAM
DỰ ÁN PHÒNG CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP
 
Bìa tạp chí số 63-2013
Hội Tim mạch học Việt Nam
Viện Tim mạch
 
   
     
 
Trang chủ Các số Tạp chí Tin hoạt động Nghiên cứu Quan điểm Đào tạo Sức khoẻ cho Cộng đồng Kho tài liệu